Bạn đang xem: Trang chủ » Giới thiệu » Từ điển Thái Bình » "TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH" toàn tập (mục 2696-2902, N)

Từ điển Thái Bình

"TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH" toàn tập (mục 2696-2902, N)

Ngày đăng: 31/07/2013 In trang

"Ông Nguyễn Quang Ân là nhà sử học, công tác tại Viện Sử học Việt Nam. Từ năm 1998 ông là Giám đốc Trung tâm Unesco Thông tin tư liệu lịch sử và văn hóa Việt Nam. Ông Ân là tác giả và đồng chủ biên tác phẩm Từ điển Thái Bình và nhiều công trình nghiên cứu, biên soạn sử học khác. Ông đã góp ý kiến và nhiệt tình gửi tới BBT một số tác phẩm đã xuất bản về quê hương Thái Bình để giúp BBT có tài liệu tham khảo, tuyên truyền giới thiệu tới bà con đồng hương xa nhà.
Xin quý bạn đọc lưu ý mấy điểm như sau:
1/ Về nội dung và thứ tự các mục từ hoàn toàn theo bản in ở trong nước.
2/ Về hình thức có sự thay đổi như: thứ tự số trang, phông chữ và tên mục từ không dùng chữ in hoa như bản in.

3/ Do điều kiện kỹ thuật trình bầy trên trang web không thể đưa chữ Hán Nôm và cũng không thể đưa hết các ảnh minh họa ở nhiều mục từ như sách đã in.
Chúng tôi xin chân thành cám ơn ông Nguyễn Quang Ân đã có tâm huyết và gửi tặng cho dhthaibinh.de bộ sách "Từ điển Thái bình" này và mong rằng bạn đọc của dhthaibinh.de sẽ hiểu hơn nữa về quê hương Thái Bình chúng ta".

Cuốn "TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH" toàn tập gồm 4990 mục từ, 1300 trang in khổ 19x27cm do Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thái Bình chỉ đạo biên soạn; Nguyễn Quang Ân và Nguyễn Thanh chủ biên; Nxb Văn hóa Thông tin in năm 2010.

Chúng tôi xin trân trọng gửi tới bạn đọc toàn tập của cuốn từ điển qúy giá này.

***


Tiếp theo...

 

N

2696. Nguyên Xá 元 舍

Xã cũ, đầu tk. XX thuộc tg Cổ Cốc, p. Tiên Hưng, t. Thái Bình. Nay thuộc x. Nguyên Xá, h. Đông Hưng. Dân số 4936 người (1927). Thần sắc x. Nguyên Xá : 22 tr.,  phong cấp vào các năm Cảnh Hưng (5 đạo), Chiêu Thống (5 đạo). Phong cho Đương Cảnh Thành Hoàng... Đại Vương. Hương ước l. Nguyên Xá (1942): 27 tr. viết tay. Bản khai thần tích-thần sắc (1938): 6 tr., 34 tr. chữ Hán; 14 đạo sắc phong; 1 thần tích; thần: Cao Sơn, Quý Minh; Lê Triều Kiệt Tiết, An Dân Hộ Quốc, Uy Nghiêm Thanh Trạc, Lương Trương Anh Quả.

2697. Nguyên Xá

Xã thuộc h. Vũ Thư. Đơn vị Anh hùng LLVTND chống Pháp (tuyên dương ngày 3-11-2004).  Nằm ở phía nam huyện, cách ttr. Vũ Thư 4km đi theo đ­ường 220B. Thành lập năm 1947 gồm các thôn: Hoàng Xá, Ngô Xá, Kiến Xá, Thái (còn gọi Hoàng Xá Hạ) làng Kiến Xá lại chia nhỏ thành Tân Tiến, Tân Hoà, Duy Nhất. Năm 2003 Nguyên Xá tổ chức lại thành 4 thôn: Thôn Thái, Hoàng Xá, Kiến Xá, Ngô Xá. Diện tích tự nhiên 613 ha. Dân số 7040 nhân khẩu, gồm 1884 hộ. 1736 người theo Công giáo, 2784 người  theo đạo Phật. Nhân dân sống chủ yếu bằng nghề nông, sản phẩm trồng trọt có lúa, ngô, khoai, lạc;  chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà, vịt... Nghề thủ công có mộc, nề, đan mây tre. Một số hộ làm các dịch vụ xay xát, nghiền thức ăn gia súc, khai thác vật liệu xây dựng. Ngoài sông Hồng, có sông Ngũ Tổng, sông 35, cống Ngô Xá. Có chợ Lựa (Kiến Xá), chợ Thái... Xã đã xây dựng đ­ược đư­ờng điện, đ­ường giao thông, các tr­ường học từ mẫu giáo đến trung học cơ sở, nhà văn hoá... đều kiên cố. Nguyên Xá là quê h­ương của Tiến sĩ Nguyễn Xuân Huyên, của thủ lĩnh nông dân tk. XVIII Hoàng Công Chất và sĩ phu yêu nư­ớc Phạm T­ư Trực. Có 1 Di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia, 3 Di tích cấp tỉnh,  có 5 lễ hội, quy mô hội làng, có truyền  thống hát chèo.

Trong KCCP, Nguyên Xá nằm trong vùng kiểm soát của địch, Ngô Văn Tuần bị địch bắt tra tấn dã man xẻo mũi, cắt tai, róc thịt vẫn không khai báo; Bùi Quy bị thư­ơng vẫn tiếp tục chiến đấu và hy sinh anh dũng; lão du kích Bùi ẩn vừa cõng con vừa đặt mìn diệt địch... Nhiều trận địch trút bom đạn xuống làng, lực l­ượng dân quân du kích vẫn bám đất bám dân, đánh địch. Từ năm 1950 đến năm 1954 lực lư­ợng vũ trang Nguyên Xá đã đánh địch nhiều trận diệt hàng trăm tên địch, thu nhiều vũ khí. Nguyên Xá còn là địa điểm đón Đại đoàn Đồng Bằng vư­ợt sông Hồng vào Thái Bình và bảo vệ đồng chí Văn Tiến Dũng. Xã còn là cơ sở cách mạng, kháng chiến của hai  huyện Thư­ Trì, Vũ Tiên. 30 năm chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (1945-1975) đã góp 8500 tấn l­ương thực, thực phẩm. Có 2017 l­ượt người đi bộ đội, 72 người đi TNXP; có 153 liệt sĩ (có 4 gia đình 2 liệt sĩ, 1 gia đình 2 bố con, 1 gia đình cả vợ chồng đều là liệt sĩ), 94 th­ương binh, 34 bệnh binh. Có 5 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 11 gia đình có công với nước, 57 gia đình được tặng Bằng khen của Chính phủ, 927 người đ­ược tặng Huân, Huy chương kháng chiến, 2 cán bộ đ­ược tặng huân ch­ương Độc lập.

2698. Nguyên Xá

thuộc h. Đông Hưng. Đơn vị Anh hùng LLVTND chống Pháp (tuyên dương ngày 3-9-1973). Thành lập năm 1947, gồm l. Nguyễn, th. Ba Vì, th. Đà Giang. Năm 1955, cắt Ba Vì về Liên Giang. L. Nguyễn chia ra các thôn: Đà Giang, Đông Khê, Thất Khê, Bắc Lạng. Năm 2003, tổ chức thành 8 thôn: Bắc Lạng, Đề Quang, Lê Tiến, Hồng Phong, Phan Thanh, Đông Khê, Đà Giang, Trần Phú. Diện tích tự nhiên 462,7 ha. Dân số 7552 nhân khẩu, gồm 1900 hộ. Là một xã đa nghề nhưng nghề chính vẫn là sản xuất nông nghiệp. Có đặc sản bánh cáy. Lụa Nguyễn một thời nổi tiếng, nay không còn. Múa rối nước l. Nguyễn có từ thời Lê sơ. Nguyên Xá, tức l. Nguyễn xưa, thuộc h. Tiên Hưng, nay thuộc h. Đông Hưng, có một vị trí chiến lược quan trọng.  Lực lượng dân quân, du kích của địa phương được đánh giá là lá cờ đầu của t. Thái Bình về phong trào dân quân, du kích suốt 30 năm chiến tranh giữ nước. Nguyên Xá bắt đầu xây dựng làng kháng chiến từ năm 1947, có hệ thống giao thông hào dài 13. 224 m và 24, 812 hố cá nhân, 11 cổng nhỏ, đóng, mở kiểu chống lên, hạ xuống, có gài mìn, cài chốt. Chỉ với 193 du kích, 223 dân quân, nhưng đã đánh nhiều trận, diệt hơn 300 tên địch, điển hình là các trận ngày 17-2, ngày 29-8 năm 1950 và trận chống càn từ ngày 20 đến 24-2-1952 trước 2000 quan Pháp thuộc binh đoàn cơ động số 8 (GM8), chủ yếu là lính Âu Phi có xe tăng, máy bay, pháo binh yểm trợ. Được Hồ Chủ tịch tặng cờ “Làng kiểu mẫu”. Trong những năm chống Mỹ, dân quân, du kích thực hiện tay cày, tay súng, thường xuyên tổ chức một đội trực chiến. Ngày 18-12-1967, bắn rơi một máy bay F4 của giặc Mỹ; ngày 11-9-1972, bắn rơi một A6. Sau mỗi lần đường số 10 và đường 39 bị bắn phá, dân quân, du kích lại nhanh chóng san lấp hố bom, sửa đường, phá bom nổ chậm. Các đợt tuyển quân đã bổ sung cho quân đội 620 người, vượt chỉ tiêu 28,9%, tỷ lệ so với dân số đạt 13%. Bảy năm liền là “Đơn vị Quyết thắng”.

2699. Nguyên Xá “Làng kiểu mẫu”

Trong KCCP l. Nguyên Xá thuộc h. Tiên Hưng, nay là x. Nguyên Xá, thuộc h. Đông Hưng. Nằm gần kề cầu Nguyễn và đường giao thông liên tỉnh số 10. Quanh làng có hào sâu, trong hào là dậu tre trồng dầy, ken kín, trong dậu là lũy đất cứng cao 1,5m. Trong lũy đất là hệ thống giao thông hào, từng đoạn có xen hố hàm ếch, các ụ tác chiến có lỗ châu mai. Ba cổng lớn vào làng xây gạch, có chòi cao canh gác. Ngoài ra còn có cánh cổng tre, ghép ken rào gai. Hai bên cổng là hai ụ chiến đấu vững chắc, nắp ụ lát gỗ, xếp đá, lấp đất dày 1m. Quanh ụ có nhiều lỗ châu mai. Toàn xã có 11 cổng nhỏ, đóng mở kiểu chống lên, hạ xuống, cài chốt, có gài mìn, có du kích canh gác. Dọc đường làng ngõ xóm hai bên có nhiều hố cá nhân chỉ vừa đủ người chui lọt...

Ngày 17-2-1950, địch huy động 400 quân có cả lừa, ngựa chở pháo đến bao vây, đánh phá  Nguyên Xá từ cả ba phía bắc, đông và nam. Bên trong, du kích bình tĩnh chờ cho địch đến thật gần mới giật mìn, ném lựu đạn. Trong ngày, 6 lần địch xông lên, lần sau mạnh hơn lần trước, nhưng đều bị đánh bật trở lại. Ngày 29-8-1950, có 2000 tên địch vây đánh Phong Châu và Nguyên Xá. Không vào được Nguyên Xá, địch tập trung đánh Phong Châu. Lập tức, du kích Nguyên Xá luồn ra khỏi làng, chia làm 2 mũi, bất ngờ nổ súng đánh vào sườn địch, cùng lúc đó tiếng kèn đồng của Nguyễn Huy Trù nổi hiệu lệnh xung phong, nhân dân cả vùng Phong Châu, Nguyên Xá hò reo náo động, khiến quân địch hoảng hốt tháo chạy.

Nguyên Xá là một làng kháng chiến điển hình, được Hồ Chủ tịch tặng cờ “Làng kiểu mẫu”; đã thực hiện được 3 không: Không lập tề, không làm tay sai cho giặc, không đi lính ngụy và 3 được: Đánh được giặc, giữ được làng, tăng gia sản xuất được.

Xt: Tượng đài làng Nguyễn (4532)

2700. Nguyễn

Cầu trên quốc lộ 10 km 72+900, vượt sông Nguyễn (sông Tiên Hưng). Xưa thuộc đất Nguyên Xá, h. Đông Hưng. Cầu do người Pháp xây dựng từ năm 1936, năm 1999 được xây dựng lại bằng bê tông cốt thép dự ứng lực dài 14 nhịp 105 m, rộng 12 m, tải trọng H30 - XB 80. Cách cầu 100 m về phía nam có ngã ba nối quốc lộ 10 và quốc lộ 39. Đây là một nút  giao thông quan trọng ở Thái Bình.

2701. Nguyễn Anh Thái (1930 - 2007)

Giáo sư Sử học (1992),  Nhà giáo ưu tú. Là con trai nhà cách mạng Nguyễn Công Truyền.  Quê x. Vũ Trung, h. Kiến Xương. Đảng viên ĐCSVN. 1961-2000: công tác tại bộ môn Lịch sử thế giới, khoa Lịch sử, đại học Sư phạm Hà Nội. Chủ nhiệm bộ môn, Bí thư chi bộ Đảng. Nghỉ hưu năm 2000. Hướng nghiên cứu: Lịch sử thế giới hiện đại;  Phong trào giải phóng dân tộc; Lịch sử quan hệ quốc tế. Đã hướng dẫn thành công 4 luận án Tiến sĩ, 10 luận văn Thạc sĩ. Đã xuất bản 18 cuốn sách viết về các lĩnh vực chuyên môn. Được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng hai.

2702. Nguyễn Bá Dương (1740 - 1783)

Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Bính Tuất niên hiệu Cảnh Hưng thứ 27 (1766) đời Lê Hiển Tông. Còn có các tên Nguyễn Bá Tử, Nguyễn Bá Tích, quê l. Nguyễn, nay là x. Nguyên Xá, h. Đông Hưng. Thuở nhỏ phải đi ở cho một thầy đồ làng, trong lúc thầy giảng ông tranh thủ học lỏm, rồi thầy tình cờ kiểm tra, ông trả lời trôi chảy, thầy thương, nhận làm học trò. Năm Bính Tuất ông về Kinh dự thi, không có tiền phải ăn nợ chủ quan, bị lột cả khăn áo, may nhờ cô bán rượu l. Hoàng Mai (chợ Mơ Hà Nội) bỏ tiền chuộc lại mới có khăn áo đi thi. Ngày ông vinh quy bái tổ cũng là ngày ông cưới cô gái bán rượu l. Hoàng Mai. Ông được bổ làm Hàn lâm viện Thị chế, sau thăng đến Tế tửu Quốc Tử giám. Ông mất lúc đương chức, thọ 45 tuổi.

2703. Nguyễn Bá Dương

Nhà thờ x. Nguyên Xá, h. Đông Hưng, thờ Tiến sĩ Nguyễn Bá Dương, xây trên đất thổ trạch cũ của quan nghè, có từ đời Lê Cảnh Hưng. Đã nhiều lần tu bổ. Hiện tại nhà thờ xây 3 gian. Cung thờ xây cuốn, lòng rộng 3 m, dài 7 m, bầy ban thờ. Phía sau phát triển thêm 3 cung nhỏ, mỗi cung rộng 2,3mét, sâu 1,5m, xây ban thờ gạch, cửa chính giữa treo bức đại tự lớn đề 4 chữ "Nguyễn tộc từ đường", hai cung tả hữu treo y môn đỏ, thêu chỉ kim tuyến. Ban thờ gian trung tâm đặt bài vị đề chữ Hán: Lê triều Tiến sĩ, Thượng thư Nguyễn Công Thần vị".

Đồ thờ bầy biện giống như các nhà thờ khác, quí hơn cả là bộ song bình cao 1m, vẽ tranh Tầu đề tài tam đa (Phúc, Lộc, Thọ) khá đẹp.

2704. Nguyễn Bá Lại (1949-1979)

Anh hùng LLVTND, truy tặng ngày 29-1-1996, quê th. Quảng Nạp, x. Thụy Trình, h. Thái Thụy. Đảng viên ĐCSVN, Trưởng phòng kỹ thuật, Trung đội trưởng tự vệ Đoàn địa chất 305, Liên đoàn địa chất 3, Tổng cục Mỏ và Địa chất. 1972-1979, sống và làm việc ở Đoàn địa chất 305 vùng biên giới xa xôi. Ngày 17-2-1979, pháo binh địch bất ngờ bắn dồn dập, rồi dùng lực lượng lớn vượt qua 2 cầu phao sông Hồng chiếm các điểm cao và bao vây toàn bộ khu vực đoàn bộ Đoàn địa chất 305. Nguyễn Bá Lại chiến đấu ở hướng chính diện, diệt 7 tên, bắn bị thương nhiều tên, thu 1 súng AK, đẩy lui 7 đợt tấn công của địch. Địch dùng cối bắn cấp tập rồi ồ ạt xông lên chốt của ta bằng nhiều mũi. Nguyễn Bá Lại vụt nhảy lên khỏi hầm, dùng AK bắn vào đội hình của địch, khiến chúng ùn lại. Bất ngờ một tên địch lọt vào cách hầm của anh khoảng 2 mét, tay cầm quả lựu đạn đang xì khói. Nguyễn Bá Lại liền nổ súng. Quả lựu đạn từ tay tên địch văng vào hầm, Nguyễn Bá Lại lập tức nằm đè lên quả lựu đạn, nhận sự hy sinh về mình, cứu sống 6 đồng đội. Các đợt tấn công của 2 trung đoàn địch có pháo binh yểm trợ, bị bẻ gãy, 500 tên bị tiêu diệt và bị thương. Toàn bộ tài liệu địa chất và trên 300 cụ già, cháu nhỏ được bảo vệ an tòan.

Được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng ba.

2705. Nguyễn Bá Ôn

Đền x. Minh Tân, h. Kiến Xương. Nguyên gốc là Thiện Đàn mà phó tướng phong trào Thiên binh chống Pháp Nguyễn Bá Ôn đã sử dụng để tuyên truyền sấm ký Trạng Trình, thơ văn Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm, tự kiếm phong làm thiên sứ, quyền lệnh cho Thành Hoàng các làng, dân chúng theo lễ tới ngót ngàn người. Sau cuộc bạo động đêm 16-12-1897 của thiên binh từ chùa Lãng Đông đánh tỉnh lỵ Thái Bình không thành, người Pháp truy bắt được thủ lĩnh Nguyễn Bá Ôn và hành quyết, nhưng e ngại lòng dân, không dám phá Thiện Đàn Nguyệt Giám. Tộc họ Phan và các nghĩa sĩ bí mật truy điệu và thờ Nguyễn Bá Ôn ngay trong Thiện Đàn do ông sáng lập, gọi là đền cụ Bá Ôn.

Thiện Đàn khởi xây năm Tự Đức thứ 8 (1855), bố cục chữ “môn”. Đền chính 3 gian, xây kiểu tiền đao hậu đốc. Hiên trước phát triển thêm tòa các lâu (chồng diêm), cổ lâu đắp bảng văn đề 3 chữ Hán: "Giám Tại Từ", hiên trổ 3 cửa lớn, nội thất chồng cốn, lòng thuyền tứ trụ. Các bức cốn được chạm long, ni, qui, phượng. Hiện còn đôi câu đối hàm ý ca ngợi cảnh quan và khí tiết Nguyễn Bá Ôn: "Lâu đài đa sắc thái - Anh hùng tự cổ kim". Được xếp hạng DTLS cấp tỉnh (2005).

Xt: K hởi nghĩa Mạc Đình Phúc (2063), Sư Thụ (3511), Vụ Thiên binh (4762).

2706. Nguyễn Bảo (1439-1503)

Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Nhâm

Thìn niên hiệu Hồng Đức thứ 3 (1472). Hiệu Châu Khê, người x. Cổ Lai, nay là th. Phú Lạc, x. Phú Xuân, tp. Thái Bình. Được bổ giữ chức Tả tư giảng phò Thái tử Lê Tranh (sau là vua Lê Hiến Tông, 1498-1504). Dù là Đông các học sĩ, Hàn lâm thị độc, hoặc Hàn lâm viện sự nhưng ông không bỏ được vai trò là thầy giáo dạy các hoàng tử, đặc biệt là Thái tử. Vua Lê Thánh Tông nhận xét “Nguyễn Bảo là bề tôi tin cẩn”, thăng ông lên chức Tả Thị lang Bộ Lễ trông coi viện Hàn lâm kiêm Đô ngự sử. Trong cáo văn của Lê Hiến Tông khi ở ngôi phong chức Thượng thư Bộ Lễ cho ông (1502) có ghi: “Ung dung lễ nhạc, giúp rập tốt chính trị các triều, trang nhã văn chương khôi phục lại giáo phái tam đại”. Ông để lại cho đời Châu Khê thi tập và bài văn bia ở am Hiển Thụy, núi Phật Tích (Bắc Ninh). Ông còn có nhiều sáng tác về  x. Cổ Lai, l. Trừng Mại.

2707. Nguyễn Bảo

Đường phố, được đặt tên ngày 9-9-2003, dài 0,13km, nền đường 7,0m, mặt đường 4,0m, chạy theo hướng tây bắc - đông nam, thuộc ph. Đề Thám. Điểm đầu giáp phố Hai Bà Trưng, điểm cuối giáp đường Trần Thánh Tông. Mặt đường rải đá, láng nhựa. Vỉa hè láng xi măng, không có cây bóng mát. Phía đông phố là mặt bên của bể bơi thuộc Sở TDTT, phía tây có mặt bên Viện Kiểm sát.

2708. Nguyễn Can Mộng (1880-1954)

Phó bảng khoa Bính Thân, Khải Định năm thứ nhất (1916). Hiệu Nông Sơn, quê l. Hoàng Nông, nay là th. Hoàng Nông, x. Điệp Nông, h. Hưng Hà. Từng làm Huấn đạo h. ý Yên (Hà Nam), giáo sư dạy chữ Hán ở trường Trung học bảo hộ, Đốc học, cuối cùng được điều về Phòng báo chí phủ Thống sứ Bắc Kỳ. Mất năm 1954.

Tác phẩm chính: Nông Sơn thi tập, 1933. Trung Hoa văn thọai tiêu chẩn, 1942. Nam hoa Hán tự, 1943. Bức gương lòng son, 1923. Truyện Kiều, 1936. Văn chương Việt Nam, 1936 . Ngạn ngữ phong dao ( sưu tầm nghiên cứu). Tục lệ nước nhà (sưu tầm nghiên cứu). Lịch sử Bắc Kỳ ...

2709. Nguyễn Cao Mệnh (s. 1943)

Giáo sư Cơ học (1992), Tiến sĩ khoa học (1985). Quê x. Thụy Dân, h. Thái Thụy. Đảng viên ĐCS VN. 1964-1969: Cán bộ nghiên cứu thuộc UBKHNN. TSKH Cơ học (1985). 1985-1990: Trưởng phòng Cơ học dao động, Viện Cơ học. Từ 1990 đến 2002: Phó, sau là Viện trưởng Viện Cơ học. 2002-2004: Viện trưởng Viện Cơ học ứng dụng, tp. Hồ Chí Minh. Nghiên cứu dao động phi tuyến và ngẫu nhiên của hệ cơ học. Dao động và chẩn đoán kỹ thuật công trình. Dao động, chẩn đoán máy và cân bằng động chi tiết máy. Mô phỏng hệ nhiều vật. Đã hướng dẫn thành công 3 luận án Tiến sĩ. Công bố 43 bài báo khoa học trên các tạp chí trong và ngoài nước. Hoàn thành 5 đề tài khoa học cấp Bộ và nghiên cứu cơ bản.

 

2710. Nguyễn Chất Xê (1947- 1971)

Anh hùng LLVTND, truy tặng ngày 23-9-1973, quê l. Nguyễn, x. Nguyên Xá, h. Đông Hưng. Đảng viên, Đại đội phó đại đội 5, đoàn 10 Đặc công Bộ Tư lệnh Miền.

Vào chiến trường miền Nam từ năm 1965, làm nhiệm vụ đánh tàu tại cảng Nhà Bè và trên sông Lòng Tàu, sát ven đô Sài Gòn. Từ đầu 1968 đến 5-1971, Nguyễn Chất Xê đã tham gia đánh 18 trận, cùng tổ đánh chìm 12 tàu có trọng tải từ 8.000 đến 13.000 tấn, đánh trọng thương 4 tàu có trọng tải trên 10. 000 tấn, phá huỷ 15 triệu lít xăng dầu. Trận đánh đêm 10-5-1971, khi chưa đưa được chất nổ áp sát mục tiêu thì bị lộ, địch cho tàu thuyền bao vây, lùng sục bắn súng, ném lưụ đạn và kêu gọi đầu hàng. Đồng chí ra lệnh cho anh em bí mật vượt vòng vây địch thoát ra, còn mình bình tĩnh lém lựu đạn lên tầu, thu hút hoả lực địch và chờ cho đồng đội ra khỏi vùng nguy hiểm mới cho huỷ khối thuốc nổ để giữ bí mật của vũ khí. Đã anh dũng hy sinh. Được tặng 2 huân chương Chiến công giải phóng (1 hạng nhì, 1 hạng 3).

2711. Nguyễn Chí Chử (?-1931)

Chủ tịch Tỉnh Đảng bộ VNQDĐ Hải Phòng (1928-1929). Quê quán t. Thái Bình, học tại Hải Phòng, sau đó làm công chức sở Bưu điện thành phố. Giữa 1927, Nguyễn Thái Học bí mật về Hải Phòng để tập hợp lực lượng thành lập VNQDĐ. Nguyễn Chí Chử được Nguyễn Thái Học tuyên truyền, vận động nên ngay sau khi VNQDĐ được thành lập (25-12-1927), đã gia nhập đảng này và đầu 1928 được cử giữ chức Chủ tịch Tỉnh Đảng bộ Hải Phòng. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Nguyễn Chí Chử, những năm 1928-1929, Tỉnh bộ VNQDĐ Hải Phòng đã gây dựng cơ sở Đảng trong giới học sinh, trí thức, công chức, nhà buôn, binh lính người Việt… Số lượng đảng viên khoảng trên 50 người. Đã ra được tờ báo “Hồn nước” để tuyên truyền ảnh hưởng của Đảng, trong khi Trung ương VNQDĐ chưa có cơ quan ngôn luận. Đáng kể nhất là sau vụ ám sát tên trùm mộ phu Bazin tại Hà Nội (2-1929), theo chủ trương của Nguyễn Thái Học và Nguyễn Khắc Nhu, Tỉnh bộ VNQDĐ Hải phòng đã ráo riết chuẩn bị cho một cuộc khởi nghĩa vũ trang. Các hoạt động rèn dao, kiếm, làm bom xi măng được tiến hành tại các cơ sở của Đảng ở Lạc Viên, Hạ Lý, An Dương… Tuy nhiên, do hoạt động khá lộ liễu, chỉ trong ngày 18-5-1929, mật thám Pháp đã phát hiện, bắt giam 15 đảng viên và khám phá nơi cất giấu vũ khí tại l. Lạc Viên. Trước tình thế đó, Nguyễn Chí Chử đã triệu tập một cuộc họp Tỉnh bộ tại nhà số 96 phố Cầu Đất vào 7-9-1929. Do Nguyễn Văn Ngọc, ủy viên ban Quân sự Tỉnh bộ khai báo, mật thám Pháp đã vây bắt được Nguyễn Chí Chử và toàn bộ số đại biểu dự họp. Sau đó, cơ sở của VNQDĐ ở nội thành Hải Phòng liên tục bị phá vỡ. Đêm 31-5-1930, tại nhà giam Hải Phòng, Nguyễn Chí Chử cùng Phạm Văn Tỉnh đã trùm chăn đánh chết tên phản bội Nguyễn Văn Ngọc. Bị thực dân Pháp kết án tử hình, chém trước nhà giam Hải Phòng vào đầu mùa xuân 1931.

2712. Nguyễn Công Chuẩn (1883-1956)

Tên hiệu Thập Hoài, người l. Động Trung, nay thuộc x. Vũ Trung, h. Kiến Xương. Sinh ra trong một gia đình yêu nước và cách mạng, những năm đầu tk. XX, học trường tú sĩ ở thành Nam, nhưng không ra làm quan. Từng thụ nghiệp Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng, Hoàng giáp Nguyễn Thượng Hiền. Đầu tk. XX, khi nổi lên các tân trào Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục, ông cùng các chú bác, anh em trong họ nhiệt liệt hưởng ứng tham gia. Bị Pháp cầm tù nhiều lần. Năm 1913, khi Phạm Văn Tráng mang tạc đạn từ Trung Quốc về, ông cùng các anh con bác ruột là Nguyễn Công Diệu (tức Ba Liệu), Nguyễn Công Trác giúp Phạm Văn Công Tráng cất giấu tạc đạn cùng vũ khí tùy thân ở hậu cung Phương đình và bàn kế hoạch giết tên Tuần phủ Thái Bình Nguyễn Duy Hàn. Qua vụ này, ông cùng anh em trong họ bị bắt giam gần 1 năm. Khi được tha về ông mở lớp dạy con cháu và xóm làng học quốc ngữ và chữ Hán, đồng thời dịch các sách kinh điển của Nho gia, trong đó có bộ Pháp Hán đại từ điển .

Những năm 1936-1939, ông là một trong những người ủng hộ và truyền bá các báo Lao động (Le Travail), Tập hợp (Rassemblement), Tiếng nói chúng ta (Notre voix) do các anh em trong họ cùng các đồng chí Bùi Lâm, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp ... sáng lập và phụ trách. 9-1939 ông bị mật thám Pháp Đờ Loóc (Delorme) bắt tại nhà, tịch thu các báo chí trên cùng một số sách viết về các lãnh tụ cộng sản Nga, châu Âu. Ông đã qua các nhà pha Thái Bình, Hỏa Lò (Hà Nội), camp Bắc Mê, Phú Thọ, camp Bá Vân (Thái Nguyên). ở camp Bắc Mê có Trần Huy Liệu, Xuân Thủy, Nguyễn Danh Đới, Trần Cung, Nguyễn Công Truyền, Đinh Nhu ... Tại đây, ông tham gia dạy chữ Hán cho anh em tù, làm thơ và hát ca trù động viên nhau trong vòng lao lý. Cuối 1943, được trả tự do và bị quản thúc 5 năm. 1944-1952, ông tham gia Việt Minh, làm Phó Chủ tịch Việt Minh h. Kiến Xương, rồi Phó Chủ tịch Mặt trận Liên Việt h. Vũ Tiên. Cuối 1952, do tuổi già sức yếu ông xin nghỉ công tác. Gia đình ông là cơ sở cách mạng thời kỳ bí mật, cơ sở nuôi dấu cán bộ, dân quân, bộ đội trong KCCP, được tặng “Bằng có công với nước”. Tác phẩm có: Chuyện cũ và thơ văn (hồi ký), Tứ thư , Cổ văn quan chỉ , Pháp Hán Việt đại từ điển , Việt Nam địa dư nguyên lưu chí (sách dịch, đã bị tịch thu, một số khác bị đốt trong CCRĐ). Ông qua đời ngày 8-2-1956.

2713. Nguyễn Công Dị (1935-1972)

Anh hùng LLVTND, truy tặng ngày 3-9-1973. Tên thường gọi Nguyễn Hồng Quân, quê l. An Trực, x. Quỳnh Hoàng, h. Quỳnh Phụ. Là phó công an khu, kiêm Trưởng đồn công an Thượng Lý, một trọng điểm đánh phá ác liệt của giặc Mỹ ở Hải Phòng, Nguyễn Hồng Quân vừa chịu trách nhiệm chỉ đạo chung vừa phụ trách địa bàn. Một số mặt công tác do đồng chí chỉ đạo như phòng không sơ tán, hướng dẫn nhân dân đào hầm hào, giáo dục trẻ em hư… đã được ngành công an tổ chức cho các đơn vị học tập. Ngoài nhiệm vụ lãnh đạo đơn vị, đồng chí luôn luôn đi sâu nắm tình hình khu phố, được nhân dân tin yêu mến phục. Trong 82 trận địch bắn phá, Nguyễn Hồng Quân đều có mặt kịp thời, bất chấp nguy hiểm, tổ chức hướng dẫn anh em, cùng lực lượng cơ sở cứu sống hàng trăm người cùng tài sản của Nhà nước và nhân dân. Đêm 15-4-1972, Nguyễn Hồng Quân đã anh dũng hi sinh trong lúc tổ chức cho nhân dân đi sơ tán dưới làn bom đạn Mỹ. Được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba.

2714. Nguyễn Công Định (tk. XV)

Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Quý Mùi, Quang Thuận thứ 4 (1463). Quê l. Biền Cán (sau là Biền Hàn, rồi Văn Hàn), nay là th. Văn Hàn, x. Thái Hưng, h. Thái Thụy. Được bổ vào làm Hiệu lý ở viện Hàn lâm, sau thăng Tham tri Bộ Hình, nhờ tài xét án công minh, thận trọng, ông được thăng Thượng thư Bộ Hình, tham gia khởi thảo bộ Luật Hồng Đức. Trong thời gian khởi thảo luật, ông được vua cho phép đi khắp các thừa tuyên trong nước để ban bố và lấy ý kiến đóng góp. Đã hai lần sang nhà Minh để tham khảo luật lệ của các triều Trung Quốc. Năm 1475, Luật Hồng Đức được ban hành. Đây là bộ luật được xây dựng khá đầy đủ và chi tiết, các đời sau đều dựa vào luật để thi hành. Nguyễn Công Định là bạn đồng môn với Nguyễn Mậu, là học trò Tế tửu Quốc Tử giám Nguyễn Thành, cùng làm quan trước sau ở Bộ Hình.

2715. Nguyễn Công Nghiệp  (s. 1954)

Giáo sư Kinh tế (2002), Tiến sĩ (1989). Quê x. Trà Giang, h. Kiến Xương. 1972-1978: Học đại học tại Matxcơva (Liên Xô); 1979-1985: Công tác tại Vụ Công nghiệp nặng, Vụ Đầu tư Bộ Tài chính; 1985-1988: Nghiên cứu sinh tại Matxcơva; 1988-1999: Công tác tại Viện Khoa học Tài chính, Phó Viện trưởng (1993), Viện trưởng (1995); 1999-2002: Vụ trưởng Vụ Ngân sách Nhà nước. Từ 2002 đến nay: Thứ trưởng, ủy viên Ban cán sự Đảng Bộ Tài chính (2002);  Thứ trưởng thường trực, Phó Bí thư Ban cán sự Đảng (2008); Bí thư Đảng ủy Bộ Tài chính (khóa 2007-2011); ủy viên BCH Đảng bộ khối các cơ quan Trung ương (khóa 2007-2010).

Hướng dẫn 11 NCS bảo vệ thành công Luận án Tiến sĩ. Công bố trên 40 bài báo, báo cáo khoa học trên các tạp chí, hội nghị khoa học trong nước và quốc tế. Chủ trì và tham gia khoảng 20 đề tài khoa học cấp Nhà nước và cấp Bộ. Là tác giả, đồng tác giả, chủ biên, đồng chủ biên khoảng 25 cuốn sách về các lĩnh vực kinh tế, tài chính. Một số tác phẩm tiêu biểu: Tài chính trong nền kinh tế thị trường và định hướng phát triển ở Việt Nam (1991), Thực trạng và xu hướng cải cách ngân sách nhà nước và ngân sách địa phương ở các nước tư bản phát triển (1991), Việt Nam-The Blazing Flame of Reforms (Việt Nam-Ngọn lửa cải cách bùng cháy) (1993), Công nghệ ngân hàng (1993), Xếp hạng tín nhiệm-nguyên lý và thực tiễn (1995), Tỷ giá hối đoái-phương pháp tiếp cận và nghệ thuật điều chỉnh (1996), Từ điển thuật ngữ chứng khoán (1998), Kinh tế tài chính thế giới (2000), Đổi mới ngân sách nhà nước (2002), Phân phối trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN (2006). Khen thưởng: Huân chương Lao động hạng II, Huân chương Lao động hạng II (CHDCND Lào).

2716. Nguyễn Công Phú (1920-1991)

Chủ tịch UBND t. Thái Bình (1976-1980) . Quê x. Thụy Hải, h. Thái Thụy. Tham gia hoạt động cách mạng từ 1936, vào ĐCSVN lần thứ nhất năm 1930, lần thứ hai tháng 3-1945. Nghỉ hưu năm 1981. Được tặng Huân chương Độc lập hạng ba, 2 Huân chương Kháng chiến. Ông là một người mẫn cán với công việc, sống khiêm tốn, giản dị.

2717. Nguyễn Công Ruẩn (1850-1892)

Người th. Đợi, nay là th. Dụ Đại, x. Đông Hải, h. Quỳnh Phụ. Ông sinh ra trong một gia đình nghèo khó, nhưng lại thuộc một dòng họ hào hữu. Khi còn nhỏ theo hầu Phạm Huy Quang, được bồi dưỡng văn võ, lớn lên làm cận vệ và theo Phạm Huy Quang sang Trung Quốc để xin vũ khí chống Pháp, rồi làm thủ lĩnh nghĩa quân cùng Lãnh Nhàn (Phụ Dực) giữ đồn Rét (Cổ Tuyết). Sau khi Phạm Huy Quang bị Pháp bắt cóc đem bắn ở Châu Giang, chúng cũng bắt được ông, đem chém ở cầu Vật (nơi giáp giới giữa Đông Hưng và Quỳnh Phụ). Thơ văn  của ông được truyền tụng trong dân gian, đã sưu tầm được một số bài, in trong Thơ văn yêu nước chống Pháp ở Thái Bình (Sở Văn hóa Thông tin và Thể thao Thái Bình xb năm 1995).

2718. Nguyễn Công Tạn (s.1935)

Phó Thủ tướng Chính phủ (1997-2002). Quê x. Thái Sơn, h. Thái Thụy. Tốt nghiệp  đại học tại Trung Quốc (1958); Giảng dạy tại học viện Nông lâm, rồi công tác tại các tỉnh  Hòa Bình, Vĩnh Phú (1958-1976). Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp (1977-1983). Phó Chủ tịch UBND tp. Hà Nội, ủy viên Thường vụ Thành ủy, Phó bí thư Thành ủy Hà Nội (1984-1986). ủy viên Trung ương Đảng  khóa VI, VII, VIII, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phó thủ tướng Chính phủ. Khen thưởng: Huân chương Lao động hạng nhất, Huân chương Chống Mỹ cứu nước hạng II, Huân chương Lao động hạng nhì của nước CHDCND Lào; Giải thưởng khoa học Nhà nước.

2719. Nguyễn Công Thu (1894-1976)

Quê x. Vũ Trung, h. Kiến Xương. Là cháu nội nhà yêu nước Nguyễn Mậu Kiến, con trai thứ ba của Tú tài Nguyễn Hữu Đàn (1869 -1907), em kề vai với Nguyễn Công Viễn, tức Lâm Đức Thụ. Năm 1925, cùng với hai người cháu là Nguyễn Danh Tề, Nguyễn Danh Thọ tìm đường sang Quảng Châu (Trung Quốc) dự lớp huấn luyện cách mạng do Hội VNCMTN tổ chức. Học xong, ông được Nguyễn ái Quốc giao nhiệm vụ tìm đường liên lạc để chuyển vận sách báo, tài liệu về nước và đưa người tiếp tục sang Quảng Châu dự học. Về đến Hà Nội, cuối 1926 Nguyễn Công Thu thành lập một chi hội VNCMTN tại một địa điểm ở l. Dịch Vọng (nay thuộc q. Cầu Giấy, Hà Nội) gồm 11 hội viên do Nguyễn Công Thu làm Bí thư.

Đầu 1927, Kỳ bộ “Thanh niên” Bắc Kỳ được thành lập, gồm 5 người, trong đó 3 người là hội viên đầu tiên của chi hội Hà Nội là Nguyễn Danh Đới (Bí thư Kỳ bộ), Mai Lập Đôn và Nguyễn Công Thu. Cùng với việc gây cơ sở, Nguyễn Công Thu vẫn tiếp tục làm nhiệm vụ giao thông do Nguyễn ái Quốc giao. Trong số khoảng 200 thanh niên được Nguyễn Công Thu dẫn đường đưa sang Quảng Châu dự các lớp huấn luyện có một số sau này trở thành những cán bộ xuất sắc của Đảng như Nguyễn Đức Cảnh, Phạm Văn Đồng, Ngô Gia Tự, Nguyễn Danh Đới… và trong số tài liệu do Nguyễn Công Thu mang về nước có cuốn “Đường Cách Mệnh” của Nguyễn Ái Quốc.

Đầu 1928, khi cùng với Đặng Châu Tuệ phân phát truyền đơn, Nguyễn Công Thu bị bắt và lãnh án 19 tháng tù giam tại Hải Dương. Hết hạn tù,  vào Thanh Hóa hoạt động, lại bị mật thám bắt, kết án 27 tháng tù nữa vì tội “dụ người đi Tàu”. Cuối 1930 ra tù, được giới thiệu về hoạt động ở Thái Bình. Sau 1945, được Huyện ủy Kiến Xương cử làm Trưởng ban Kinh doanh của ủy ban di cư tản cư; Hội trưởng Hội Liên Việt; Hội trưởng Hội giúp đỡ binh sĩ bị nạn h. Kiến Xương. Từ đầu 1950, thực dân Pháp đánh chiếm Thái Bình, Tỉnh ủy chủ trương đưa một số cán bộ cao tuổi ra vùng tự do Thanh Hóa. Cuối 1955, ông trở về Thái Bình giữa lúc đang tiến hành CCRĐ, bị quy sai là Quốc dân đảng, đã lĩnh án tử hình, sau được hạ xuống 10 năm tù giam, rồi được sửa sai, sau đó được bố trí công tác ở nhà khách của Bộ Ngoại giao, rồi nhà khách của Phủ Thủ tướng cho đến  ngày mất.

Sáu đồng chí tham dự lớp huấn luyện chính trị tại Quảng Châu (7-1925) - Từ trái sang phải: Nguyễn Công Thu (thứ 5), Nguyễn Danh Thọ (thứ 6).

2720. Nguyễn Công Toan

Quê l. An Định (nay thuộc x. Thụy Văn, h. Thái Thụy). Được Nguyễn Đức Cảnh giác ngộ cách mạng, hoạt động ở Hà Nội. 1928 - 1929 về Thụy Anh hoạt động trong VNCMTN. 1931 bị địch bắt. Trong KCCP, được bầu vào BCH tỉnh Đảng bộ Thái Bình tại Đại hội đại biểu tháng 7-1947 và Đại hội đại biểu tháng 2-1948. Từ 1949 công tác ở Ban Dân vận Liên khu III.

2721. Nguyễn Công Truyền (1905- 1973)

Quê x. Vũ Trung, h. Kiến Xương. Là cháu nội nhà yêu nước Nguyễn Mậu Kiến, con trai thứ sáu của Tú tài Nguyễn Hữu Đàn (1869-1907), em ruột Nguyễn Công Viễn, Nguyễn Công Thu... Năm 1925 vào Sài Gòn, rồi sang Pháp, hoạt động trong Hội Liên hiệp thuộc địa (một tổ chức do Nguyễn ái Quốc tham gia sáng lập), sinh hoạt trong chi hội Paris, tham gia điều hành tờ báo Việt Nam Hồn . Sau gần 4 năm ở Paris hoạt động trong phong trào yêu nước của Việt kiều, Nguyễn Công Truyền trở về Sài Gòn tiếp tục hoạt động trong VNCMTN. Năm 1930 được kết nạp vào ĐCS, phụ trách chi bộ Đảng tại Cao Miên. Cuối 1930 dự  hội nghị do Xứ ủy Nam Kỳ triệu tập, bị Pháp bắt giam ở khám lớn Sài Gòn, đến 1933 đưa về quản thúc ở Thái Bình. Trong phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương, ra hoạt động công khai, viết báo Tin tức Le Travail . Tháng 7-1938, Đảng đưa ông ra tranh cử chức Nghị viên của Hội đồng Dân biểu Bắc Kỳ nhưng không trúng cử. Năm 1939, lại bị bắt, kết án tù giam ở Thái Bình, sau chuyển đi các trại giam Bắc  Mê (Hà Giang), Phú Thọ, Bá Vân (Thái Nguyên). 1944 ra tù, hoạt động trong Mặt trận Việt Minh. Tháng 8-1945 được cử đi dự Quốc dân Đại hội ở Tân Trào. Cách mạng thành công, được cử làm ủy viên UBND Bắc Bộ, kiêm nhiệm Giám đốc Sở Thông tin tuyên truyền Bắc Bộ. 1945 - 1946, được cử tham gia một số hoạt động ngoại giao với thực dân Pháp, chính phủ Trung Quốc và các đảng phái trong nước. Cuối 1946 được giao phụ trách ủy ban Tản cư Di cư Bắc Bộ. 1948 làm tham chính văn phòng Bộ Nội vụ. 1949 - 1954: Phó Chủ tịch UBKCHC kiêm nhiệm Chủ tịch Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (tức Mặt trận Liên Việt) tỉnh Ninh Bình. Sau khi hòa bình được lập lại, giữ chức Vụ phó Vụ Lễ tân, rồi Vụ trưởng Vụ Lãnh sự Bộ Ngoại giao. Năm 1970 được nghỉ hưu, từ trần ngày 5-10-1973.

2722. Nguyễn Công Trứ (1778 - 1858)

 

Danh sĩ thời Nguyễn, tự Tôn Chất, hiệu Ngô Trai, biệt hiệu là Hy Vân, quê l. Uy Viễn, h. Nghi Xuân, nay thuộc t. Hà Tĩnh. Ông sinh tại Thái Bình khi Nguyễn Công Tán (có sách chép là Tần) - cha ông làm Tri phủ Quỳnh Côi và lớn lên, ra làm quan ông lại có dịp trở lại Thái Bình. Nguyễn Công Trứ lận đận trên con đường khoa bảng và cả chốn quan trường, mãi năm 42 tuổi mới đỗ Giải nguyên. Làm quan trải qua các chức Lang trung bộ Lại, Tư nghiệp Quốc Tử giám (1824), Tham tri Bộ Hình, rồi thăng lên Hữu tham tri Bộ Hình, có lúc bị giáng xuống làm Lang trung bộ Binh và lần lượt bị cách mọi chức vụ xuống làm lính thú. Tính ông khảng khái, phong nhã. Ông sáng tác nhiều thơ ca để lại cho đời.

Ông là người nhìn thấy nguyên nhân sâu sa của các cuộc khởi nghĩa nông dân, đó là vì cuộc sống, vì vấn đề ruộng đất. Ông được phép triều đình tập hợp dân lưu tán (cả các nghĩa binh Phan Bá Vành) để mở đất Tiền Châu. Vua Minh Mệnh giao cho ông làm doanh điền sứ. Công cuộc chinh phục bãi biển Tiền Châu được khởi công từ tháng 3-1822 đến 8-1828 thì hoàn thành. Ngày 28-9-1828, h. Tiền Hải chính thức được thành lập với 7 tổng, 47 ấp trại, trừ tg. Tân Bồi cắt từ h. Thanh Quan sang, còn 6 tổng mới khai hoang là công lao của ông. Chính ông là người đã mở h. Tiền Hải ngày nay. Nhân dân Tiền Hải đã lập đền thờ ông.

2723. Nguyễn Công Trứ

Lăng bia tưởng niệm ở x. Tây Sơn, h. Tiền Hải. Đất lăng xưa là tổng kho lương của doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ. Cồn đất cao thuộc khu lăng, đình ngày nay có tên U Bò là do Nguyễn Công Trứ cắt cho các hương chức. Tháng 9-1828 cuộc khẩn hoang thành công, vì nguyên mộ Phan Trọng Nạn (anh em thúc bá Phan Bá Vành) đã khẩn phần đối ngạn sông Long Hầu với Hoàng Tân, x. Đức Cơ án mất phần từ sông Long Hầu ra biển, dân Hoàng Tân được phát triển thêm chiều Nam - Bắc, chiều Đông Tây chỉ có từ U Bò ra phía tây sông Long Hầu. Về sau làng không thờ Nguyễn Công Trứ, mà thờ "Trần triều Thuận Thánh" (?), Nam Hải Đại Càn thánh mẫu và các tiên công của họ.

Năm 1944, Tri huyện Tiền Hải là Nguyễn Quang Tạo xây sân bóng cạnh huyện đường, lại cho đào hồ (dài 100 m, rộng 60 m), đắp đảo (rộng 160 m 2 ), xây nhà bia tưởng niệm doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ ngay trên đất phủ lỵ. Tất cả bờ bao hồ, đảo đều kè đá. 4 mặt đảo xây tường dậu hoa, chính tâm dựng tòa phương lăng cao 4 mét, bỏ ngỏ thông thoáng, giữa phương lăng đặt bia "Doanh điền Nguyễn tướng công" với bài minh tóm tắt tiểu sử, thành tựu khẩn hoang và tấm lòng dân Tiền Hải thành kính biết ơn người khai sáng huyện biển. Được xếp hạng DTLS cấp Quốc gia (1990).

2724. Nguyễn Công Trứ

Phố, có từ thời Pháp. ở đầu phố có Sở Mật thám, không ai dám qua lại. Sau 1945, Đường phố có tên Nguyễn Công Trứ. Phố dài 0,12 km, nền đường 10,5 m, mặt đường 5,5 m, chạy theo hướng tây bắc - đông nam, thuộc địa phận ph. Đề Thám. Điểm đầu giáp phố Trần Hưng Đạo, điểm cuối giáp phố Lê Lợi. Mặt đường rải đá, láng nhựa. Vỉa hè láng xi măng, trồng cây bóng mát.

2725. Nguyễn Công Úc (1867-1913)

Là con thứ tư Nguyễn Hữu Bản, quán l. Động Trung, nay là x. Vũ Trung, h. Kiến Xương. Người to cao cứng cáp, tướng mạo cổ quái. Có tư chất thông minh, ngôn ngữ hoạt bát, trí nhớ tài tình, rất thông kinh sử. Không theo đòi khoa cử, chỉ thích nghiên cứu binh thư, luyện võ nghệ đến mức nổi tiếng trong vùng. Giao du với các bậc hào kiệt thời Cần vương lớp trước ở Thanh Nghệ Tĩnh ra, ở Nam Định, Thái Bình, Hải Dương, Hải Phòng đến. Bị Pháp kết tội “tiến hành nghịch đảng”, xử án chém. Ông trốn lên t. Sơn Tây, dựa vào thế của Tổng đốc tỉnh ấy là Cao Xuân Dục, được sử dụng làm tùy phái rồi cấp chức Bang tá p. Vĩnh Tường, từ ấy có tên là Bang úc. Khi Cao Xuân Dục được triệu về kinh đô Huế thì ông cũng giải chức ngay.

Năm Mậu Thân (1908), ông cùng người anh con bác ruột là Nguyễn Công Diệu lên vùng núi Con én (Lạng Sơn), tìm gặp Hoàng Hưng bạn chiến đấu của Tôn Văn. Họ Hoàng hứa giúp tất cả số tàn quân 600 người còn đủ súng ống của Đồng Minh hội. Ông lại được giới thiệu với Lương Tú Xương và Lục Vĩnh Bình, hai người này thấy anh em ông nhiệt thành với công cuộc cứu nước cũng hứa giúp 300 quân đầy đủ trang bị. Mã Tắc Lương trấn giữ cửa ải Nam Quan cũng giúp hai khẩu đại bác và một số quân cách mạng Trung Hoa. Công úc, Công Diệu cùng một số thân tín khác vượt biên giới Việt Trung để gặp Lục Vĩnh Bình, tới Đồng Đăng thì bị mật thám Pháp bắt giữ, xử tội “tiến hành nghịch đảng”, nghị án trảm quyết. án này đệ về Hà Nội, nhưng được anh em cách mạng trong tòa áo đỏ (tức tòa thượng thẩm ngày nay) là ông Phan Văn Kiên đã tìm cách để phá hủy bản án. Trong lúc nguy nan ông vẫn bền chí giữ tiết tháo bậc trượng phu, không coi việc được tha là chuyện đáng mừng. Bên giường vẫn đầy sách binh Pháp và thơ văn đời trước.

Ngày 15 tháng hai năm Quý Sửu (1913), ông lại cùng một số anh em trong họ và một số thân tín trong làng lên đánh chiếm Ty rượu Thanh Ba, tập kích dinh Tuần phủ Phú Thọ Chế Quang Ân để lấy tiền cho Lương Ngọc Quyến mang sang Trung Quốc ủng hộ Phan Bội Châu. Cuộc tập kích thất bại, Nguyễn Công úc, Nguyễn Công Tích, Nguyễn Ngọc Lan (con án sát Nguyễn Ngọc Trương ở l. Tang Trữ, h. Nam Trực) bị trúng đạn bên bờ sông Hồng, số còn lại bị kết án tù 10 năm ở Thái Nguyên. Thi hài ông được chôn cất ở x. Năng Xá, h. Thanh Ba, t. Phú Thọ.

N

 

2726. Nguyễn Công Vân (1880 - 1911)

Quê l. Động Trung (nay là x. Vũ Trung, h. Kiến Xương), là con cả nhà văn thân yêu nước Nguyễn Hữu Cương. Hồi còn nhỏ học ở nhà, lớn lên thụ nghiệp Phó bảng Đặng Đức Địch, dự thi Hương một lần đỗ nhị trường. Sau từ bỏ con đường cử nghiệp, cùng cha và anh em trong gia tộc dấn thân vào con đường phục quốc. Ông hoạt động rất tích cực cho phong trào Đông Kinh nghĩa thục. Một số đồng chí trong phong trào này chủ trương bạo động, ông được cử đi vận động lính tập  ở tx. Hà Đông, mưu phá ngục tỉnh này. Việc bại lộ, hai cha con ông bị Pháp bắt, đày cha ông ở Cần Thơ, đày ông ở Bạc Liêu (Nam Kỳ) và cả hai cùng trút hơi thở cuối cùng tại đây. Hiện còn 2 bài thơ của ông, in trong sách Thơ văn yêu nước chống Pháp ở Thái Bình (Sở Văn hóa Thông tin và Thể thao Thái Bình xb năm 1997)

2727. Nguyễn Công Viễn (? - 1950)

Tức Lâm Đức Thụ, quê l. Động Trung (nay là x. Vũ Trung, h. Kiến Xương). Là cháu nội nhà yêu nước Nguyễn Mậu Kiến, anh thứ hai của Nguyễn Công Thu, Nguyễn Công Truyền… Lúc nhỏ học chữ nho, từng đỗ đầu xứ nên được gọi là “Đầu Xứ Viễn”. Hưởng ứng phong trào xuất dương của thanh niên hồi đầu tk. XX, năm 1912 Nguyễn Công Viễn tìm đường sang Trung Quốc, hoạt động trong tổ chức của cụ Phan Bội Châu ở Quảng Châu. Theo tài liệu của PGS,TS Chương Thâu, Nguyễn Công Viễn  lấy vợ người Trung Quốc. Bà Huệ Quần, vợ ông (tên Việt Nam là Hồng) cùng với em gái là Huệ Khanh (tên Việt Nam là Bích) đều là những nữ thanh niên yêu nước Trung Quốc và có cảm tình rất sâu sắc với cách mạng Việt Nam. “Huệ Quần y xã”, nơi cư ngụ của gia đình Lâm Đức Thụ là một cơ sở tin cậy của nhiều nhà cách mạng Việt Nam hoạt động ở Trung Quốc lúc bấy giờ. Cuối năm 1923 một nhóm thanh niên cấp tiến gồm 7 người là Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Lâm Đức Thụ … đã bí mật tách khỏi Việt Nam Quang phục Hội để lập ra “Tâm Tâm xã” (còn gọi Tân Việt Thanh niên Đoàn). TTX đã tổ chức giết tên Toàn quyền Đông Dương Méclanh (Merlin) tại Sa Điện ngày 19-6-1924 làm chấn động dư luận. Tháng 11-1924, Nguyễn ái Quốc từ Liên Xô sang Trung Quốc đã tiếp xúc ngay với TTX, hướng dẫn họ đi vào con đường cách mạng của chủ nghĩa Mác Lênin và đã tập hợp những thanh niên ưu tú của TTX, trong đó có Lâm Đức Thụ để thành lập Hội VNCMTN (tức Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội) vào 6-1925. ở Tổng bộ VNCMTN, Lâm Đức Thụ có vai trò như một ủy viên thường trực,  quán xuyến các công việc ở hải ngoại, đặc biệt là vấn đề tài chính. Sau Đại hội I ở Hương Cảng (Trung Quốc) vào tháng 5-1929, VNCMTN bị phân liệt. Sau đó, ĐDCSĐ, ANCSĐ, ĐDCSLĐ lần lượt  xuất hiện và đến ngày 3-2-1930 thì thống nhất thành một đảng duy nhất là ĐCSVN. Hội VNCMTN kết thúc vai trò lịch sử là tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản.

Sau 1945,  Nguyễn Công Viễn về nước. Lúc bấy giờ em ông là Nguyễn Công Truyền đang là một cộng sự tin cậy của Hồ Chủ tịch trong một số công việc ngoại giao với Pháp, Tưởng Giới Thạch và các đảng phái phản động Việt Quốc, Việt Cách. Hồ Chủ tịch cho ông tạm về quê nghỉ ngơi. Năm 1950, ông mất trên đường đi Thanh Hóa theo chủ trương của Tỉnh ủy Thái Bình đưa một số cán bộ cao tuổi ra vùng tự do trước khi  chiến sự xảy ra ác liệt.

2728. Nguyễn Danh Đới (1905-1943)

Quê x. Vũ Trung, h. Kiến Xương. Từng học ở trường Thành chung Nam Định. Mùa hè năm 1926, sang Quảng Châu dự lớp huấn luyện cách mạng. Cuối năm 1926, về Hà Nội hoạt động trong Kỳ bộ Thanh niên Bắc Kỳ, rồi được cử làm Bí thư Kỳ bộ, kiêm Bí thư Tỉnh bộ Thanh niên Hà Nội. Tháng 3-1929, bị địch bắt tại quê l. Động Trung, bị xử tù 5 năm, đày ra Côn Đảo. Tại đây, ông được được tiếp súc với các đồng chí Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Giáp, Bùi Lâm. Cuối năm 1932, trở về Thái Bình, tham gia Tỉnh ủy. Thời kỳ Mặt trận Dân chủ, Nguyễn Danh Đới tích cực hoạt động trên nhiều lĩnh vực. Tên ông xuất hiện nhiều trên các tờ báo xuất bản ở Hà Nội và Thái Bình. Trong cuộc vận động bầu cử viện Dân biểu Bắc Kỳ năm 1938, Nguyễn Danh Đới, Nguyễn Văn Năng, Bùi Đăng Chi, Trần Cung... đều ở trong ban lãnh đạo đấu tranh. Tháng 7-1940, Nguyễn Danh Đới lại bị bắt đưa đi căng Bắc Mê (Hà Giang), rồi các nhà lao Phú Thọ, Thái Nguyên. Kẻ thù hèn hạ đã tiêm thuốc độc làm cho ông trở thành phế nhân và chết dần trong lao tù. Con trai thứ hai của ông là Nghệ sĩ nhân dân Nguyễn Trung Kiên, nguyên Thứ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin.

2729. Nguyễn Danh Đới

Đường phố, được đặt tên ngày 9-9-2003, dài 1,0km, nền đường 12 m, mặt đường 7,0 m, chạy theo hướng đông bắc - tây nam, thuộc ph. Trần Lãm. Điểm đầu giáp đường Trần Quang Khải, điểm cuối giáp phố Lý Thường Kiệt. Mặt đường rải đá, láng nhựa. Chưa có vỉa hè.

2730. Nguyễn Danh Hoàn (1910-1997)

Quê l. Nham Lang, nay là x. Tân Tiến, h. Hưng Hà. Thời kỳ học ở Trường Bưởi, Hà Nội (1928-1930), đã cùng một số đồng chí đứng ra thành lập Học sinh cứu quốc đoàn, Lao động cứu quốc đoàn, Phụ nữ cứu quốc đoàn, rồi Bình dân cấp tiến cách mệnh Đảng.  1931 bị thực dân bắt, kết án 5 năm tù giam tại nhà giam Hỏa Lò (Hà Nội). ở đây, được tiếp xúc với đồng chí Trường Chinh và từ đó, ông đã hoàn toàn tin tưởng vào đường lối cách mạng của ĐCS. Ông họp các đồng chí cũ, giải thể Đảng Bình dân, đi theo con đường của ĐCS. Tại quê nhà, ông chỉ đạo việc chống phụ thu lạm bổ của cường hào, đòi chia lại công điền. Đêm 30 Tết 1940, ông lại bị bắt và đưa đi đầy ở căng Bắc Mê (Hà Giang). 1942 được tha về, ông vận động xây nghĩa trang Tiên Tiến, soạn thảo 3 bài văn bia đầy nhiệt huyết. 1942-1943, lãnh đạo các tổ chức dân chủ phản đế ở Nham Lang, chuyển thành các đoàn thể cứu quốc của Việt Minh, hoạt động sôi nổi, đã tổ chức cướp 7 thuyền đinh chở thóc của Nhật trên sông Luộc, chia hơn 200 tấn thóc cho dân các xã ven sông.

Sau 1945, là Chủ nhiệm Việt Minh h. Hưng Nhân. Khoảng 1945-1948 là Chủ nhiệm Việt Minh h. Kiến Xương,  rồi Trưởng Ban kinh tế Tỉnh ủy Thái Bình và Giám đốc Công ty Việt Thắng của tỉnh. Từ 1948, lần lượt là Phó Ban huấn luyện Liên Khu ủy III, Giám đốc kiêm giảng viên trường Đảng Trần Phú; ủy viên Ban Tuyên huấn Liên Khu ủy; Giám đốc Giáo dục Liên khu III… Từ sau 1958, là Bí thư Đảng ủy kiêm Hiệu phó trường đại học Sư phạm Hà Nội, Vụ trưởng Vụ Giáo dục cấp ba, Vụ trưởng Vụ Giáo dục chính trị. Mất tại Hà Nội ngày 22-5-1997. Được tặng thưởng: Huân chương Độc lập hạng ba, Huân chương Kháng chiến hạng nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất. Xt: Giáp Tiên tiến

2731. Nguyễn Dần (1539 - ?)

Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Bính Tuất, Mạc Đoan Thái thứ nhất (1586). Còn có tên Nguyễn Tảo, tự Tảo Minh, người l. Tô Xuyên, nay thuộc x. An Mỹ, h. Quỳnh

Tin mới ...
Tin cũ hơn ...

Đánh giá của bạn

Tên của bạn
Đánh giá
Mã bảo vệ

Hiện có 0 đánh giá

Album ảnh, Đại Hội VIII - Hội đồng hương Thái Bình CHLB Đức, Berlin 16.05.2016

Thanh niên & Sinh viên Thái bình

Tin hội đồng hương thái bình chlb Đức

Hát xẩm - Hồng Tươi - Hoàng Thị Dư - Xuân Phương - Trà Giang

Tỷ giá - Thời tiết

Tỷ giá

Thông tin thời tiết

   

Back To Top